Tổng hợp văn bản mới về thuế số 02 tháng 10/2020

09-10-2020
1. Công văn số 3997/TCT-CS ngày 24/9/2020 về chính sách thuế nhà thầu

Tại khoản 5 Điều 2 Thông tư số 103/2014/TT-BTC nêu trên quy định về đối tượng không áp dụng Thông tư bao gồm: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng KNQ, cảng nội địa (ICD) làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công”.

Căn cứ các quy định trên, về nguyên tắc trường hợp công ty nước ngoài sử dụng kho ngoại quan làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công thì không thuộc đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam; Trường hợp công ty nước ngoài giao gia công cho doanh nghiệp trong khu chế xuất để sản xuất hàng hóa, sau đó đưa hàng hóa vào kho ngoại quan để bán cho các khách hàng ở nước  ngoài, hàng hóa được chuyển giao quyền sở hữu tại kho ngoại quan trước khi xuất khẩu ra nước ngoài thì công ty nước ngoài thuộc đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam.

Đề nghị Công ty TNHH SG Sagawa Việt Nam cung cấp hồ sơ, hợp đồng và các tài liệu liên quan khác cho Cục Thuế tỉnh Đồng Nai để được hướng dẫn thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

2. Công văn số 4019/TCT-CS  ngày 24/9/2020 về chính sách ưu đãi đầu tư khi sát nhập địa giới hành chính.

Việc xác định Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư (địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) để làm căn cứ xem xét miễn, giảm tiền thuê đất và miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Từ ngày 1/1/2020 toàn bộ diện tích tự nhiên thuộc huyện Kỳ Sơn nhập vào thành phố Hòa Bình và không còn thuộc địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn theo Nghị quyết số 830/NQ-UB TVDH14 ngày 17/12/2019 của UBQH khóa 14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Hòa Bình. Vì vậy, kể từ ngày 01/01/2020, các dự án đầu tư mới được thành lập trên địa bàn huyện Kỳ Sơn sẽ không được hưởng ưu đãi thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất theo điều kiện địa bàn ưu đãi đầu tư.

Trường hợp nếu các dự án đầu tư đã được thành lập trước ngày 01/01/2020, đang được hưởng ưu đãi đầu tư đối với tiền thuê đất vì tiếp tục được xem xét miễn, giảm tiền thuê đất cho thời gian ưu đãi còn lại (nếu còn).

Trường hợp còn vướng mắc trong việc xác định địa bàn ưu đãi đầu tư thì đề nghị Cục Thuế có ý kiến để Sở Kế hoạch và Đầu tư có văn bản báo cáo, xin ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để được hướng dẫn theo thẩm quyền.

3. Công văn số 4023/TCT-CS ngày 25/9/2020 về việc chuyển đổi hoá đơn điện tử thành chứng từ giấy

- Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa hữu hình trong quá trình lưu thông và chỉ được chuyển đổi một (01) lần thì hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải đáp ứng các quy định nêu tại Khoản 2, 3, 4 Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC và phải có chữ ký người đại diện theo pháp luật của người bán, dấu của người bán.

- Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để phục vụ việc lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật Kế toán thì hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy phục vụ lưu trữ phải đáp ứng các quy định nêu tại Khoản 2, 3, 4 Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC.

Theo đó, trường hợp Bệnh viện Nhi Trung ương chuyển đổi hoá đơn điện tử cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh sang hoá đơn giấy để phục vụ theo yêu cầu của bệnh nhân, làm chứng từ kế toán phục vụ cho việc đối chiếu, theo dõi kiểm tra giữa người bệnh và cơ quan, đơn vị bảo hiểm thì không nhất thiết phải có dấu người bán và hoá đơn được chuyển đổi sang hoá đơn giấy nêu trên thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Luật kế toán số 88/2015/QH13.

4. Công văn số 4073/TCT-CS ngày 28/9/2020 về khoản chi giữ chân người lao động trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động do ảnh hưởng của dịch Covid-19

Tại công văn số 6801/CT-TTHT ngày 10/6/2020 của Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh nêu vướng mắc đối với trường hợp doanh nghiệp do tác động của dịch Covid-19 làm ảnh hưởng đến nguyên vật liệu nhập về không đồng bộ dẫn đến không bố trí đủ việc làm cho người lao động. Vì vậy, để giữ chân người lao động trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động Công ty chi hỗ trợ cho người lao động là: 2.000.000 đồng/tháng/người thì khoản chi trên được coi là khoản chi có tính chất phúc lợi hay khoản chi tiền lương ngừng việc để được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp?

Để có cơ sở áp dụng chính sách thuế TNDN đối với khoản chi của doanh nghiệp giữ chân người lao động khi tạm hoãn hợp đồng lao động do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 cần làm rõ đây là khoản chi có tính chất phúc lợi hay chi tiền lương ngừng việc.

Nếu khoản chi nêu trên là khoản chi có tính chất phúc lợi thì được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC (Tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp).

Nếu khoản chi nêu trên là chi tiền lương ngừng việc thì được tính toàn bộ vào chi phí tiền lương, tiền công và được trừ khi tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015) .

Để có cơ sở hướng dẫn thực hiện, đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến về vấn đề nêu trên.

5. Công văn số 4076/TCT-DNNCN ngày 29/9/2020 về chính sách thuế TNCN

Trường hợp xác định Công ty TNHH Eusung Electronics Vina và Chi nhánh Công ty tại Đồng Nai đã kê khai sai thuế TNCN của kỳ tính thuế Quý 1, Quý 2 năm 2019 đối với khoản tiền lương Công ty trực tiếp trả cho người lao động tại Chi nhánh thì Công ty và Chi nhánh thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo quy định tại Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC.

Sau khi khai bổ sung hồ sơ khai thuế thì:

+ Nếu trong năm 2019 chi nhánh không phát sinh trả thu nhập cho cá nhân thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Số thuế chi nhánh đã nộp ở Đồng Nai được xác định là nộp thừa và Chi nhánh được xử lý số nộp thừa tại Đồng Nai theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013    của Bộ Tài chính.

+ Nếu trong năm 2019 Chi nhánh có phát sinh trả thu nhập cho cá nhân thì Chi nhánh phải khai quyết toán thuế TNCN năm 2019, xác định thuế TNCN nộp thừa theo quyết toán thuế và được xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

6. Công văn số 4090/TCT-CNTT ngày 30/9/2020 về dịch vụ truyền, nhận dữ liệu hóa đơn điện tử, cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế

Tổng cục Thuế đang xây dựng hệ thống hóa đơn điện tử, trong đó có các phân hệ kết nối kỹ thuật với các tổ chức cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử. Sau khi hoàn thiện hệ thống hóa đơn điện tử, Tổng cục Thuế sử rà soát hồ sơ của doanh nghiệp đã gửi và thông báo cho doanh nghiệp để kết nối, kiểm thử và thực hiện các thủ tục, trình tự ký hợp đồng cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử theo đúng quy định. Dự kiến thời gian Tổng cục Thuế hoàn thiện hệ thống hóa đơn điện tử và thông báo cho doanh nghiệp là Quý 1/2021.

- Về phương thức kết nối dữ liệu với Tổng cục Thuế: Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số 635/QĐ-TCT ngày 11/5/2020  về việc “Ban hành Quy định về các thành phần chứa dữ liệu hóa đơn điện tử và phương thức truyền nhận với cơ quan thuế”. Doanh nghiệp nghiên cứu để có giải pháp cập nhật, nâng cấp hệ thống khi Tổng cục Thuế có thông báo triển khai hóa đơn điện tử theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Nghị định số 119/2018/NĐ-CP.

7. Công văn số 4111/TCT-DNL ngày 30/9/2020 hướng dẫn về việc kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) của các nhà máy thủy điện

Trường hợp Công ty cổ phần thủy điện Miền Nam có nhà máy sản xuất thủy điện tại địa phương khác nơi đóng trụ sở chính công ty, có phát sinh doanh thu thủy điện thì Công ty thực hiện kê khai thuế GTGT đối với các nhà máy thủy điện tại trụ sở chính và xác định riêng số thuế GTGT phát sinh phải nộp của từng nhà máy để nộp vào kho bạc địa phương nơi có nhà máy sản xuất thủy điện theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Thông tư số 156/2013/TT-BTC. Số thuế GTGT phát sinh phải nộp của hoạt động sản xuất thủy điện được xác định bằng số thuế GTGT đầu ra trừ (-) số thuế GTGT đầu vào của hoạt động sản xuất thủy điện tương ứng của từng nhà máy. Số thuế GTGT đầu vào của các máy móc, vật tư và dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh cho các nhà máy thủy điện do Công ty mua và kê khai tại Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chưa được khấu trừ, Công ty xác định riêng cho từng nhà máy thủy điện và bù trừ với số thuế GTGT đầu ra phát sinh của từng nhà máy vào các kỳ kê khai tiếp theo nếu đáp ứng điều kiện khấu trừ theo quy định. Đối với số thuế GTGT đầu vào liên quan đến chi phí quản lý doanh nghiệp không tách riêng được, công ty thực hiện phân bổ cho từng nhà máy theo tỷ lệ phần trăm doanh thu của ông nhà máy so với tổng doanh thu của Công ty trong kỳ tính thuế.

Từ ngày 01/7/2020, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã có thiệu lực thi hành, đề nghị Công ty cổ phần thủy điện Miền Nam căn cứ Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để thực hiện.

VỊ TRÍ BDO
Vị trí gần bạn
Xem vị trí