Tổng hợp văn bản mới về thuế số 03 tháng 10/2020

19-10-2020
1. Công văn số 4122/TCT-CS ngày 01/10/2020 trả lời ý kiến, kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam

Nội dung kiến nghị: Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi quy định hướng dẫn về việc nhập khẩu trang thiết bị y tế nhằm mục đích hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%.

Tổng cục Thuế có ý kiến như sau: Hiện nay, Bộ Tài chính đang sửa đổi, bổ sung Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính liên quan đến nội dung thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị, dụng cụ y tế.

Nội dung kiến nghị: Đề nghị bổ sung hướng dẫn về phạm vi và cách áp dụng các quy định về thuế cho hoạt động thương mại điện tử, để đảm bảo thông tin rõ ràng cho người nộp thuế không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cũng như cho các đối tác, khách hàng và người tiêu dùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Tổng cục Thuế có ý kiến như sau: Tại Khoản 4 Điều 42 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 quy định:

“Điều 42. Nguyên tắc khai thuế, tính thuế

4. Đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác được thực hiện bởi nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì nhà cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ trực tiếp hoặc ủy quyền thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.”


Hiện nay, Tổng cục Thuế đang triển khai xây dựng Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật Quản lý thuế. Trong đó đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường.trú tại Việt Nam có phát sinh thu nhập từ Việt Nam, dự thảo Thông tư dự kiến sẽ hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký thuế, thủ tục khai, nộp thuế của Nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác; Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân ở Việt Nam có liên quan trong trường hợp Nhà cung cấp ở nước ngoài không thực hiện đăng ký, khai thuế, nộp thuê trên Cổng thông tin hệ thống quản lý của Tổng cục Thuế. Dự thảo Thông tư được dự thảo trên cơ sở quy định tại Luật Quản lý thuế và các Luật về chính sách thuế đảm bảo phù hợp với mô hình kinh doanh của các tổ chức nước ngoài, phù hợp với thông lệ quốc tế và nhằm hạn chế việc ánh và trốn thuế.

Trong thời gian tới, dự thảo Thông tư sẽ được gửi lấy ý kiến rộng rãi các tổ chức cá nhân quan tâm trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

2. Công văn số 4129/TCT-CS  ngày 01/10/2020 hướng dẫn về chính sách thuế TNDN

Theo báo cáo của Cục Thuế thành phố Hà Nội tại công văn số 10794/CT-TTKT9: Công ty CP bao bì Thông Minh Việt Nam được Ban Quản lý các KCN tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mã số dự án 8002506057 chứng nhận lần đầu ngày 19/5/2016 để thực hiện dự án Nhà máy sản xuất bao bì Thông Minh Việt Nam thực hiện tại KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn, xã Tri Phương,  huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (KCN Đại Đồng Hoàn Sơn được thành lập theo Quyết định số 319/Ttg-QĐ ngày 28/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ và không nằm trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi). Dự án tại Bắc Ninh đi vào hoạt động từ tháng 12/2016 và có doanh thu, thu nhập chịu thuế từ tháng 01/2017.

Căn cứ các quy định nêu trên và các nội dung báo cáo của Cục Thuế thành phố Hà Nội: nếu dự án Nhà máy sản xuất bao bì Thông Minh Việt Nam đáp ứng điều kiện là dự án đầu tư mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC và thực hiện tại KCN (không nằm trên địa bàn các quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và khu công nghiệp nằm trên địa bàn các đô thị loại I trực thuộc tỉnh) thì dự án Nhà máy sản xuất bao bì Thông Minh Việt Nam thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định, cụ thể như sau: Miễn thuế hai năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong bốn năm tiếp theo đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới được ưu đãi, thời gian bắt đầu áp dụng ưu đãi tính từ năm 2017.

3. Công văn số 4131/TCT-CS ngày 01/10/2020 về xử lý thu hồi quyết định đã miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định

Trường hợp Công ty TNHH MTV Nam An Khánh được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời hạn thuê theo Quyết định số 635/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 và Hợp đồng thuê đất số 2321/HĐTĐ ngày 01/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang để thực hiện dự án Nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử; nếu Dự án này đã được cơ quan thuế quyết định miễn tiền thuê đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ mà đến ngày 19/9/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang có Quyết định số 550/QĐ-UBND điều chỉnh chủ trương đầu tư, trong đó đổi tên dự án nêu trên thành dự án nhà máy lắp ráp linh kiện điện tử và cho thuê nhà xưởng và nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có văn bản xác định dự án sau khi chuyển đổi không đáp ứng điều kiện miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định thì đề nghị Cục Thuế tỉnh Bắc Giang rà soát xác định lại Quyết định miễn tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP đối với Công ty TNHH MTV Nam An Khánh theo Dự án trước đây là Quyết định miễn, giảm tiền thuê đất theo điều kiện nào? (theo lĩnh vực hay địa bàn ưu đãi đầu tư), trên cơ sở đó căn cứ quy định của pháp luật từng thời kỳ (Khoản 7 Điều 18 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP, Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP) và nguyên tắc quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để truy thu số tiền thuê đất đã được miễn, giảm của Công ty TNHH MTV Nam An Khánh theo đúng quy định của pháp luật.

4. Công văn số 4160/TCT-CS ngày 02/10/2020 về việc kê khai, khấu trừ đối với hoá đơn bị bỏ sót

Về nguyên tắc, người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế đã nộp nhưng phải trước khi cơ quan thuế ban Quyết định thanh tra, kiểm tra. Trường hợp, cơ quan thuế đã ban hành Kết luận, Quyết định xử lý về thuế sau khi kiểm tra, thanh tra; nếu người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp và được kiểm tra, thanh tra (liên quan đến thời kỳ, phạm vi kiểm tra, thanh tra) còn sai sót thì người nộp thuế được tự khai bổ sung, điều chỉnh; việc xử lý căn cứ chế độ quy định và nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc sai sót, chưa đúng phải điều chỉnh.

Theo nội dung trình bày của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh tại công văn số 6804/CT-TTKT2 ngày 17/8/2020 nêu trên, Tổng cục Thuế cơ bản thống nhất với ý kiến xử lý của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh tại công văn số 6804/CT-TTKT: Đề nghị Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh căn cứ kết quả kiểm tra thực tế tại đơn vị để xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 5  Nghị định số 83/2013/NĐ-CP nêu trên. Trường hợp, người nộp thuế có một số hoá đơn GTGT đầu vào của năm 2017, 2018 còn sót chưa kê khai, khấu trừ tại Hồ sơ khai thuế GTGT đã nộp cho cơ quan thuế (theo trình bày tại công văn số 6804/CT-TTKT2 ngày 17/8/2020 nêu trên: do tại thời điểm kê khai thuế, người nộp thuế chưa nhận được hoá đơn từ bên bán do chưa có chứng từ thanh toán), cơ quan thuế đã kiểm tra, thanh tra hồ sơ khai thuế GTGT của năm 2017, 2018 và xác nhận thực tế đơn vị chưa kê khai thuế GTGT đầu vào của những hoá đơn còn sót nêu trên và bên bán đã kê khai, nộp thuế các hoá đơn này theo quy định thì người nộp thuế được kê khai các hoá đơn GTGT đầu vào còn sót chưa kê khai.

5. Công văn số 4173/TCT- CS ngày 05/10/2020 về hoàn thuế đối với dự án đầu tư

1. Về việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư nhà máy điện, Bộ Tài chính có công văn số 15615/BTC-TCT ngày 24/12/2019 gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tổng cục Thuế có công văn số 5289/TCT-CS ngày 17/12/2019 gửi Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk (bản photocopy gửi kèm).

2. Việc hoàn thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành: Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016, Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ, Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016  của Bộ Tài chính.

Theo đó, trường hợp dự án đầu tư nhà máy điện đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế chưa được cấp Giấy phép hoạt động điện lực thì chưa đủ điều kiện hoàn thuế GTGT theo quy định.

6. Công văn số 4218/TCT-DNNCN ngày 06/10/2020 về hoàn thuế TNCN đối với tổ chức trả thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Tại Khoản 1 Điều 60 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội quy định về việc xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa như sau:

“Điều 60. Xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa

1. Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp thì được bù trừ số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ hoặc trừ vào số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo hoặc được hoàn trả số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa khi người nộp thuế không còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.”

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty Cổ phần kết cấu thép ATAD xác định có số thuế thu nhập cá nhân nộp thừa tại thời điểm đề nghị hoàn thuế và không còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt theo quy định của pháp luật thì Công ty Cổ phần kết cấu thép ATAD được cơ quan Thuế xem xét đề nghị hoàn thuế thu nhập cá nhân.

VỊ TRÍ BDO
Vị trí gần bạn
Xem vị trí